Trang chủ » Bảo Tàng Hải Phòng » Di tích lịch sử Tràng Kênh – Bạch Đằng, Thủy Nguyên, Hải Phòng

Di tích lịch sử Tràng Kênh – Bạch Đằng, Thủy Nguyên, Hải Phòng

Di tích lịch sử Tràng Kênh – Bạch Đằng, Thủy Nguyên, Hải Phòng. Trương Hán Siêu, môn khách của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trong kiệt tác thiên cổ hùng văn “Bạch Đằng giang phú” đã dẫn dắt người đời đến với những chiến công tuyệt vời của dân tộc thông qua những địa danh nổi tiếng như Đại Than, Đông Triều, sông Bạch Đằng, Tràng Kênh, núi U Bò…

Là chứng nhân của trận lịch sử này, Trương Hán Siêu không chỉ là người đầu tiên nói rõ vị thế vô cùng hiểm yếu của quan ải Bạch Đằng Giang, mà ông còn là người sớm khẳng định “đức cao” của các vua Trần, tài chỉ huy của các tướng lĩnh, sự hy sinh vô bờ bến của quân dân nhà Trần mới là yếu tố quyết định chiến thắng.

Tiếc rằng nhiều công trình nghiên cứu, đề tài nghiên cứu về chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 trước đây hầu như mới quan tâm đến vùng trung tâm chiến trường, thậm chí quyết định công nhận Di tích Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 là Di tích quốc gia đặc biệt cũng mới chỉ tập trung vào trận địa cọc và những di tích có liên quan ở phía sông Chanh thuộc địa bàn thị xã Quảng Yên ngày nay. Khu vực này tất nhiên là rất quan trọng, nhưng nếu như không có hai bên bờ thượng lưu sông Bạch Đằng và sông Đá Bạc thuộc phía Bắc huyện Thủy Nguyên, phía Nam huyện Đông Triều và một phần phía Bắc huyện Kinh Môn (Hải Dương) thì thật khó có thể thể hình dung ra một không gian đích thực của Chiến thắng Bạch Đăng năm 1288 và như thế, làm sao có thể hiểu được một cách đầy đủ và chính xác tầm vóc của chiến công này.

di-tich-lich-su-trang-kenh-thuy-nguyen-hai-phong

Tràng Kênh – Bạch Đằng đã đi vào lịch sử dân tộc, vào tâm hồn và cuộc sống của nhân dân Việt Nam như một tượng đài chiến thắng, một biểu tượng của tinh thần yêu nước, của trí thông minh, sáng tạo và ý chí quyết thắng giặc ngoại xâm. Sông Bạch Đằng là cửa ngõ yết hầu từ phương Bắc vào nước ta. Càng ngược về thời kỳ xa xưa nó càng có vị trí cực kỳ quan trọng. Các nhà địa lý lịch sử đời Nguyễn khi biên soạn bộ Đại Nam nhất thống chí đã nhận xét rất xác đáng rằng: “Nước ta chống người phương Bắc chỗ này là chỗ cổ họng”. Nguyễn Trãi thì nói một cách hình tượng rằng đây là nơi quan ải do trời đặt ra thế hiểm yếu khiến hai người có thể chống được cả trăm người. Đây cũng là nơi lập công danh của các bậc anh hùng hào kiệt.

Trong hàng nghìn năm, sông Bạch Đằng là đường thủy duy nhất của chiến thuyền Trung Quốc vào nội địa Việt Nam, ít nhất là 7 lần: năm 111 trước Công nguyên (thời Hán Vũ Đế), năm 42 (Mã Viện, nhà Đông Hán), năm 545 (Trần Bá Tiên, nhà Lương), năm 722 (Dương Húc, nhà Đường), năm 938 (Hoằng Tháo, nhà Nam Hán), năm 981 (Hầu Nhân Bảo, nhà Tống), năm 1288 (Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, nhà Nguyên)…

Nhìn lại toàn bộ quá trình xâm lược nhằm nô dịch dân tộc Việt Nam của phương Bắc cho thấy, từ xa xưa người phương Bắc thường đi bằng 3 con đường chính: một là tuyến đường bộ từ hướng Lạng Sơn, hai là tuyến đường bộ từ Vân Nam tiến xuống và ba là bằng đường thủy men theo ven biển, qua vịnh Hạ Long vào sông Bạch Đằng rồi ngược lên sông Lục Đầu để tiến sâu vào nội địa nước ta.

Trên thực tế, con đường Lạng Sơn thì đến mãi thế kỷ thứ X mới được mở, còn đường từ Vân Nam xuống chỉ là hướng phụ, ít khi sử dụng vì đi lại hết sức khó khăn. Con đường chính và có thể coi như là duy nhất trong nhiều thế kỷ trước vẫn là hướng từ ven biển vào sông Bạch Đằng. Có nghĩa là suốt cả nghìn năm Bắc thuộc vùng Tràng Kênh – Bạch Đằng chính là nơi cửa ngõ mà kẻ thù liên tiếp đưa người sang nhằm mục đích đồng hoá, nô dịch dân tộc ta một cách ráo riết nhất. Tài liệu khảo cổ học cung cấp khu Tràng Kênh – Bạch Đằng từng là một trung tâm chính trị – kinh tế – thương mại thời Bắc thuộc…

Thế kỷ thứ X là thế kỷ bản lề của lịch sử Việt Nam được đánh dấu bằng 4 sự kiện lịch sử trọng đại: Năm 905, họ Khúc được sự ủng hộ của dân chúng đã nổi dậy lật đổ chính quyền đô hộ của nhà Đường, xây dựng chính quyền tự chủ, làm cơ sở trực tiếp dẫn đến nền độc lập hoàn toàn. Cuối năm 938, ở vùng cửa sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã làm nên cuộc chung kết lịch sử toàn thắng của dân tộc Việt Nam ta trong cuộc đọ sức nghìn năm với kẻ thù phương Bắc. Năm 981, Lê Hoàn chiến thắng giặc Tống cũng tại cửa sông Bạch Đằng, khẳng định bước phát triển vượt trội của quốc gia Đại Cồ Việt. Bốn sự kiện lịch sử hết sức đặc biệt, được xem như sử hưng khởi của dân tộc đầu thời kỳ độc lập đều diễn ra hay chủ yếu diễn ra ở vùng Tràng Kênh – Bạch Đằng…

Khu di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Tràng Kênh – Bạch Đằng đã được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử – danh thắng cấp quốc gia tại Quyết định số 313VH/QĐ ngày 23-4-1962 và khoanh vùng giới hạn bảo vệ tuyệt đối tại Quyết định số 12 VHTT/QĐ. Theo đó, khu vực bảo vệ tuyệt đối có tọa độ: O = 80 đến 84; X = 18,5 đến 21,5; Khu vực bảo vệ cảnh quan có tọa độ: O = 77 đến 84; X = 21,5 đến 18,5 (Bản đồ lưới ô vuông của Bộ Tổng tham mưu ấn hành tháng 3-1971 từ số F48 – 118 – A – B và tờ F48 – 118 – B – a tỷ lệ 1/25.000).

Ghi lại chiến thắng của dân tộc qua các thời kỳ chống ngoại xâm, chúng ta có sách lịch sử, có các viện bảo tàng, có các tác phẩm văn học nghệ thuật… Các lớp người đời sau muốn biết về công lao người các đời trước, muốn phát huy truyền thống anh hùng của người đời trước, chúng ta cần có nhiều sử liệu, trong đó cần có di tích lịch sử gắn liền với thắng cảnh thiên nhiên. Khu di tích Tràng Kênh – Bạch Đằng được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt sẽ đáp ứng nhu cầu tìm hiểu sâu các giá trị lịch sử, khảo cổ học và giá trị thẩm mỹ. Di tích chỉ có một không thể có hai, đang tiềm ẩn biết bao giá trị quý báu về lịch sử, khảo cổ, văn hóa, quân sự và du lịch…

Theo ANHP